Thứ Bảy, ngày 25 tháng 10 năm 2014

Phỏng vấn Đức TGM.Phaolô Bùi Văn Đọc
sau Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về Gia đình

“Mục vụ gia đình là nghệ thuật dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”

Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về Gia đình do Đức Thánh Cha Phanxicô triệu tập nhóm họp tại Roma từ ngày 5-10 đã bế mạc vào Chúa nhật 19-10 vừa qua, sau hai tuần lễ thảo luận sôi nổi.
Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc là một trong các nghị phụ tham dự Thượng Hội đồng này với tư cách Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Ngài vừa trở về Việt Nam để tham dự Hội nghị Thường niên Kỳ II/2014 của Hội đồng Giám mục Việt Nam sắp diễn ra tại Toà Giám mục Nha Trang. Nhân dịp này phóng viên của Trang web Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gặp Đức Tổng giám mục Phaolô và được ngài dành cho buổi trao đổi ngắn sau đây:
 Phóng viên (PV): Trọng kính Đức Tổng, Đức Tổng vừa tham dự Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về Gia đình. Chúng con là những phóng viên của Trang web Hội đồng Giám mục Việt Nam xin được có đôi câu phỏng vấn Đức Tổng.
Thưa Đức Tổng, Đức Tổng có thể cho chúng con biết những vấn đề chính yếu đã được đưa ra bàn thảo trong Thượng Hội đồng Giám mục và hướng giải quyết của những vấn đề này?
Đức Tổng giám mục Phaolô (ĐTGM):Thượng Hội đồng ngoại thường lần này bàn về đời sống gia đình, gia đình nói chung chứ không phải chỉ là hôn nhân hay là hôn phối. Đây là một chủ đề rộng lớn, đặc biệt là những gia đình công giáo trong thế giới hôm nay trước bao nhiêu khó khăn thử thách.
Mục đích của Thượng Hội đồng lần này là lắng nghe các nghị phụ, đặc biệt là các nghị phụ chủ tịch các Hội đồng Giám mục của các quốc gia, để nắm bắt tình hình một cách chắc chắn rồi mới đưa ra đường hướng chung cho toàn thể Giáo hội.
Đường hướng chung của Thượng Hội đồng là kết hợp tình thương và chân lý, lòng thương xót của Thiên Chúa và đòi hỏi bước theo Chúa Kitô trên con đường thập giá. Vì thế điều cốt yếu mà toàn thể Giáo hội vẫn phải kiên nhẫn thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, là sự giáo dục đào tạo hết sức cần thiết cho các gia đình Kitô giáo hôm nay.
PV: Thưa Đức Tổng, theo dõi trên truyền thông chúng con thấy có những vấn đề nổi bậtnhư phá thai, ly hôn, hôn nhân đồng tính, bạo lực và đạo đức trong gia đình, được bàn rất sôi nổi ở trong Thượng Hội đồng. Thưa Đức Tổng, ngoài những vấn nạn đó ra thì Thượng Hội đồng Giám mục còn trao đổi những vấn đề quan trọng nào nữa?
ĐTGM: Thực sự, những vấn đề đã được nêu như phá thai, ly hôn, đồng tính, đó là những vấn đề nổi cộm trong Thượng Hội đồng (tôi dùng chữ nổi cộm chứ không dùng chữ nổi bật) nhưng không choán quá nhiều thời gian của Thượng Hội đồng.
Thượng Hội đồng dùng rất nhiều thời gian để bàn về giáo dục đức tin cho các gia đình Kitô giáo, cho vấn đề mục vụ gia đình.
Dĩ nhiên vấn đề mục vụ gia đình là một nghệ thuật. Trước hết, mục vụ là nghệ thuật trên hết các nghệ thuật, nghệ thuật cao cả nhất như thánh Grêgôriô Cả đã nói. Mục vụ gia đình cũng là nghệ thuật dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đường hướng mục vụ gia đình thì Thượng Hội đồng cố gắng hướng theo con đường đồng hành và thăng tiến, như Chúa Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau, dần dần mới nâng lên. Dĩ nhiên, nếu có những lúc phải chữa lành, thì cũng phải chữa lành khi cần thiết. Cho nên mục vụ gia đình có thêm khía cạnh chữa lành. Mục vụ gia đình phải làm thế nào để cho mỗi gia đình Công giáo trở nên một trường học đầu tiên về cách làm người; trường học đầu tiên về xã hội tính, nghĩa là sự giao lưu tiếp xúc gặp gỡ với người khác; trường học đầu tiên về tinh thần Giáo hội và lòng yêu mến Giáo hội; trường học đầu tiên về sự nên thánh vì mọi người Kitô hữu khi chịu phép rửa đều được mời gọi bước theo Chúa Kitô để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.
Điểm thứ hai: Thượng Hội đồng bàn thế nào để có chương trình giáo dục đào tạo thật vững chắc và rõ ràng.
Điểm thứ ba là làm sao biến các gia đình Công giáo thành những tác nhân loan báo Tin Mừng.
Và điểm cuối cùng thì phức tạp hơn, dài hơn, đó là mục vụ gia đình trong những hoàn cảnh khó khăn và khủng hoảng. Làm sao kết hợp tình thương và chân lý, kết hợp như thế nào trong những trường hợp của những người đã ly dị và tái hôn. Đây là vấn đề rất khúc mắc. Rồi trong trường hợp những người sống chung bất hợp pháp, nghĩa là không có bí tích hôn phối, bây giờ rất nhiều và tràn lan trên toàn thế giới. Điểm thứ ba cũng đề cập tới khá nhiều đó là vấn đề toà án hôn phối, làm thế nào để đơn giản hoá thủ tục để đưa về cho Giáo hội địa phương giải quyết giúp các khủng hoảng về đời sống gia đình.
PV: Kính thưa Đức Tổng, xin Đức Tổng chia sẻ cho chúng con biết bầu khí làm việc tạiThượng Hội đồng lần này.
ĐTGM: Bầu khí làm việc tại Thượng Hội đồng thì rất sôi nổi, rất tự do. Có những lúc hội trường nóng lên vì những tranh luận, nhưng cuối cùng cũng hoà hợp trong tình yêu thương bác ái và trong sự hiệp nhất. Có những phát biểu tự do và mạnh dạn, và có rất nhiều người tham gia phát biểu. Chính tôi cũng phát biểu vào phút cuối sau khi vị hướng dẫn đọc lên sứ điệp của Thượng Hội đồng. Tôi nhận xét thế này: “Tôi nhận thấy là sứ điệp của Thượng Hội đồng làm rất hay, nhằm khích lệ và an ủi các thành phần dân Chúa, đặc biệt là các gia đình Công giáo, nhưng có một thiếu sót là các nghị phụ an ủi dân Chúa mà không nhắc đến Đấng an ủi là Chúa Thánh Thần! Cả hội trường – kể cả Đức Thánh Cha – đều cười rộ lên vì thấy đúng nhưng không kịp sửa chữa được nữa vì đã vào phút cuối của Thượng Hội đồng. Đức Thánh Cha một cách nào đó đã bù vào chỗ trống trong diễn văn tự phát của người vào Thượng Hội đồng. Người nói khá nhiều về Chúa Thánh Thần. Người nói: các nghị phụ nói chung nhiều khi chưa mạnh dạn đủ để bước theo sự hướng dẫn và thúc đẩy của Chúa Thánh Thần… Bản thân tôi, tôi rất thích sự đa dạng trong tự do, trong yêu thương hiệp nhất. Đó là bầu khí của Thượng Hội đồng năm nay.
PV:Sau khi họp Thượng Hội đồng Giám mục về, Đức Tổng có hướng mục vụ mới nào chogia đình tại Việt Nam?
ĐTGM: Hướng mục vụ mới thì không biết có mới hay không vì đối với Giáo hội, phải có một cái gốc rất là vững chãi, nhưng lúc nào cũng phải đổi mới. Nếu hỏi về đường hướng mục vụ gia đình thì tôi nghĩ đường hướng này gồm các điểm sau đây:
Trước hết, cơ bản nhất là phải giáo dục đức tin Kitô giáo cho những Kitô hữu, đặc biệt là những gia đình, sâu hơn, kỹ hơn. Giáo dục đức tin Kitô giáo thì gồm ít nhất một số những phần sau đây:
Phần thứ nhất là huấn giáo các bí tích mà tôi có dịp nói đi nói lại trong Thượng Hội đồng trong bài tham luận của tôi. Không phải chỉ bí tích Hôn Phối mà thôi mà những bí tích như bí tích Rửa Tội, bí tích Thêm Sức, bí tích Thánh Thể. Làm sao giáo dục những người Kitô hữu cho thật kỹ các bí tích đó, thì họ sẽ là những con người tương đối vững vàng để bước vào đời sống hôn nhân, sẽ được vững chãi và hạnh phúc trong đời sống hôn nhân.
Điểm thứ hai hết sức quan trọng là mục vụ đồng hành. Đường hướng chung của Giáo hội là muốn đồng hành cùng với các gia đình, mọi gia đình Kitô hữu và mọi gia đình Kitô giáo. Thực sự đồng hành có nghĩa là cùng hành trình với những Kitô hữu, với các gia đình. Mà khi đã nói đồng hành, thì riêng tôi, tôi nghĩ là phải thăm viếng thôi! Nếu không có sự thăm viếng là gặp gỡ đầu tiên thì làm sao đồng hành được! Việt Nam mình có cái khó này là các giáo xứ quá đông, quá lớn, nên các cha không đi thăm viếng giáo dân. Không gặp gỡ không thăm viếng giáo dân và gia đình thì làm sao đồng hành được? Không có cách nào khác hết, cho nên phải khuyến khích tối đa mục vụ thăm viếng. Nếu trong một giáo xứ quá lớn mà không thực hiện được thì phải cần sang điểm thứ ba.
Điểm thứ ba: Tích cực thúc đẩy sự tham gia của giáo dân. Các gia đình Công giáo giờ đây không phải là đối tượng của mục vụ gia đình, của sự chăm sóc của Giáo hội mà trở thành chủ thể của một gia đình cùng với linh mục, cha xứ tham gia vào mục vụ gia đình, đặc biệt là mục vụ thăm viếng đó. Như vậy mới có thể nói là theo hướng của Hội Thánh hiện nay. Đường hướng mục vụ tôi đề ra hiện nay là đường hướng của Hội Thánh. Những cha nào mà ở giáo xứ nhỏ vẫn vui mừng, đừng ham ở giáo xứ lớn. Giáo xứ nhỏ mình có cơ hội đi thăm các gia đình, mình đồng hành với các gia đình, mình thăm các giáo dân, mình đồng hành với các giáo dân, mình đi theo đúng đường hướng mục vụ của Hội Thánh, như vậy thì rất ích lợi. Tôi tin các cha cố gắng hết sức cùng với giáo dân làm việc này thì Giáo hội Việt Nam tiến được một bước rất xa.
PV: Chúng con hết lòng cám ơn Đức Tổng.

(WHĐ, 24.10.2014)

BẢN TIN HẰNG TUẦN SỐ 269

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN A
Ngày 26-10-2014
                                    LỜI CHÚA : Mt 22, 34-40
                     Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại, đoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: "Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?"
Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó".
Suy Niệm:
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu đã tóm tắt cả các giới luật quy về hai điều quan trọng: mến Chúa - yêu người. Phải yêu Chúa toàn vẹn con người chúng ta; và yêu tha nhân như chính mình. Trong tương quan với Chúa, nhiều khi chúng ta đến với Ngài để thỏa mãn nhu cầu của chúng ta mà thôi. Chúng ta tính toán với Chúa từng giây từng phút. Còn với anh em, chúng ta hẹp hòi, khó tha thứ. Lời Chúa hôm nay cật vấn chúng ta, chúng ta có suy nghĩ gì?
Cầu Nguyện:
Lạy Chúa, xin dạy chúng con luôn ý thức rằng mọi sự đều là của chúa và tất cả những gì chúng con có đều do Chúa ban. Xin ban cho chúng con luôn nhận ra tình yêu của Chúa đối với chúng con, để chúng con biết đáp trả tình Chúa bằng trái tim yêu mến thâm sâu, và sống quảng đại chia sẻ tình thương Chúa cho những anh em đang cần chúng con giúp đỡ. Amen.
HỌC GIÁO LÝ
Câu 1. Hỏi : Các hoàn cảnh ảnh hưởng đến công việc chúng ta làm như thế nào?
Thưa : Các hoàn cảnh có thể giảm thiểu hay gia tăng trách nhiệm của chúng ta, nhưng không bao giờ làm cho việc xấu trở thành tốt được.
Câu 2. Hỏi : Chúng ta không bao giờ được phép làm những việc nào?
Thưa : Chúng ta không bao giờ được phép làm những việc tự nó là xấu nghiêm trọng như lộng ngôn, thề gian, giết người, ngoại tình…
PHỤNG VỤ
 TIN TỨC
TỒNG KẾT QUỸ TRUYỀN GIÁO 2014
Giáo họ Anrê Kim Thông : 4.670.000$, gh Mathêu Phượng: 4.620.000$, gh Giuse Thị : 2.470.000$, gh Ximon Hòa : 6.660.000$, gh Anrê Trông : 13.231.000$ và một số bì thư không ghi giáo họ.Tổng cộng : 35.100.000$. Giáo xứ biểu dương Ban Điều Hành gh Anrê Trông đã tích cực phân phối và thu gom bì thư nên đạt kết quả cao, các gh còn lại chưa tích cực làm việc, nhất là gh Ximon Hòa : số giáo dân đông hơn gh Anrê Trông, nhưng kết quả chưa bằng một nữa gh Anrê Trông.
LỄ BỔN MẠNG GIÁO HỌ GIUSE LÊ ĐĂNG THỊ
Tối ngày 23-10-2014, cha chính xứ đã hướng dẫn giáo dân trong giáo họ tham dự buổi tĩnh tâm theo chương trình năm Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình. Cha đề nghị và khuyến khích các gia đình tổ chức đọc kinh tối để nuôi dưỡng đời sống đức tin. Chiều ngày 24-10-2014 cha chánh xứ và cha phụ tá đã cử hành thánh lễ mừng kính thánh bổn mạng của giáo họ.
Thánh Giuse Lê Đăng Thị, sinh 1825 tại Quảng Trị, Giáo dân, Cai Ðội, bị xử giảo ngày 24/10/1860 tại An Hòa, Huế, được phong hiển thánh ngày 19/6/1988.
Giáo họ Giuse Thị (Tam Hiệp cũ)  gồm  P. Đức Nghĩa, Kp 1,2,3 P. Lạc Đạo và Kp 1,2,3 P. Đức Thắng, TP PhanThiết.
Trong 2 tháng vừa qua, cha chánh xứ đã đến thăm được 134 gia đình, còn 40 gia đình chưa tìm ra địa chỉ, một số đi vắng chưa tiếp xúc được, cha sẽ tiếp tục tìm đến thăm hỏi để động viên các gia đình sống đạo, vì qua tiếp xúc mới biết được giáo họ này có số người kết hôn không có bí tích hôn phối, nghỉ đạo, khô khan nguội lạnh, cao nhất trong 5 giáo họ còn lại của giáo xứ.
VUI VỚI NGƯỜI VUI
Anh Fx. Nguyễn Hồng Phong, ở gx Đông Quang, Sài Gòn và chị Têrêxa Hoàng Anh Thủy Kim Thanh, con ông Phêrô Hoàng Minh, ở gh. Anrê Trông, đã cử hành bí tích hôn phối tại nhà thờ Chính Tòa, lúc 4g30 sáng thứ sáu ngày 24-10-2014;
 Anh Tôma Võ Hữu Văn, tân tòng, ở Đức Tân, Tánh Linh, Bình Thuận và chị Matta Nguyễn Thị Hòa, con ông Phêrô Nguyễn Chung, ở gh. Giuse Thị; anh GB. Trần Trung, tân tòng, ở Long Hải, Bà Rịa và chị Maria Nguyễn Thị Thanh Phát, con ông Phêrô Nguyễn Huy Thái, ở gh. Anrê Kim Thông; anh Phaolô Ngô Văn Tùng, con ông Phêrô Ngô Sáng, ở gh. Ximon Hòa và chị Maria Hoàng Thị Rớt, tân tòng, ở Đức Thắng, Phan Thiết đã cử hành bí tích hôn phối tại nhà thờ Chính Tòa, lúc 4g30 sáng thứ bảy ngày 25-10-2014.
Giáo xứ chia vui và cầu chúc cho các đôi bạn sống chung thủy và hạnh phúc bên nhau trong tình yêu của Chúa.
XÂY  NHÀ VỆ SINH CHO NGƯỜI NGHÈO
Vừa qua, giáo xứ đã xây 10 nhà vệ sinh cho người nghèo, 5 cái cho 5 hộ ngoài Công Giáo, 5 cái cho 5 gia đình giáo dân trong 2 giáo họ Ximon Hòa và Anrê Trông. Tổng kinh phí: 44.000.000$, trong đó Công Ty Xây Dựng 368 ủng hộ tiền công thợ và 4.000.000$.
THÔNG BÁO
1. Những ai muốn theo học lớp giáo lý dự tòng và giáo lý hôn nhân khóa I/2015 (từ tháng11-2014 đến tháng 4-2015), xin đến nhà xứ để đăng kí, từ thứ hai đến thứ sáu trong tuần, hạn chót là thứ ba, 11-11-2014.
2. Chiều thứ sáu, 31-10-2014, sau thánh lễ sẽ rước kiệu Đức Mẹ và dâng hoa bế mạc tháng Mân Côi.
3. Thứ bảy ngày 01-11-2014, lễ Các Thánh Nam Nữ, sẽ có hai thánh lễ trọng tại nhà thờ Chính Tòa: 4 giờ 30 sáng, 5 giờ 00 chiều, và một thánh lễ tại nhà thờ Tiến Thành lúc 4g00 chiều.
4. Chúa nhật ngày 02-11-2014, lễ cầu cho các linh hồn, các thánh lễ như Chúa nhật. Các gia đình dọn vệ sinh và chỉnh trang phần mộ của thân nhân.

5. Giáo xứ chân thành cám ơn quý ân nhân ủng hộ: giáo họ Giuse Thị: 2.000.000$, một giáo dân gx Đức Thắng: 1.000.000$, chị Minh Thủy, gh Anrê Kim Thông: 3.000.000$, chị Bình gh Giuse Thị: 1.000.000$, một người xin dấu tên: 1.000.000$.

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 10 năm 2014

Thánh lễ kết thúc Thượng Hội Đồng và tôn phong Chân Phước cho Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục

Giữa những tràng pháo tay của mọi người, Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 đang tiến ra lễ đài cùng với Đức Tổng Giám Mục George Ganwaein là bí thư của ngài. Điểm đặc biệt là hôm này ngài mặc áo lễ, nghĩa là hôm nay ngài sẽ cùng đồng tế với Đức Thánh Cha Phanxicô và các nghị phụ của Thượng Hội Đồng Ngoại Thường về Gia Đình trong thánh lễ bế mạc Thượng Hội Đồng và tôn phong Chân Phước cho Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục.

Vị Giáo Hoàng đã nghỉ hưu là một trong ba giám mục còn sống tới ngày nay đã được Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục tấn phong Hồng Y. Hai vị kia là Đức Hồng Y Paulo Evaristo Arns, Tổng Giám Mục về hưu của Sao Paulo; và Đức Hồng Y William Baum, nguyên Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao. Cả hai vị cũng tham dự thánh lễ hôm nay.

Giờ đây Đức Thánh Cha đang kêu gọi anh chị em tín hữu chuẩn bị tâm hồn để cử hành thánh lễ.

Anh chị em, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta, để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh này.

Chúa yêu thương chúng con và cứu chúng con khỏi tội lỗi. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Chúa đã dẫn đưa chúng con vào một vương quốc, cho chúng con được làm tư tế cho Thiên Chúa là Cha toàn năng. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Chúa là Alpha và Omega, là nguyên thủy và là cùng đích. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót chúng ta, tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

Đức Cha Luciano Monari, là Giám Mục giáo phận Brescia, quê hương của Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, tiến lên trước Đức Thánh Cha để xin ngài tôn phong Chân Phước cho vị Giáo Hoàng.

Ngài nói:

Trọng kính Đức Thánh Cha, con là Giám Mục miền Brescia, khẩn khoản xin Đức Thánh Cha tôn phong Chân Phước cho vị Tôi Tớ Đáng Kính của Thiên Chúa, là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục.

Đức Thánh Cha Phanxicô công bố như sau:

Thể theo yêu cầu của chư huynh Giám Mục Luciano Monari, là chủ chăn miền Brescia, của nhiều chư huynh khác trong hàng giám mục, và nhiều tín hữu, sau khi tham khảo với các Bộ Phong Thánh, với năng quyền tông đồ của mình, chúng tôi tuyên bố rằng Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, từ nay về sau được gọi tôn kính trong hàng Chân Phước và truyền rằng ngày lễ kính trong toàn Giáo Hội sẽ được cử hành hàng năm vào ngày 26 tháng Chín, theo những thứ bậc và chuẩn định được quy định bởi giáo luật.

Nhân danh Cha và Con và Chúa Thánh Thần.

Đức Cha Luciano Monari đã cám ơn Đức Thánh Cha Phanxicô. Ngài nói:

Trọng kính Đức Thánh Cha, con là Giám Mục miền Brescia, chân thành cám ơn Đức Thánh Cha vì ngày hôm nay ngài đã tôn phong Chân Phước cho Người Tôi Tớ Đáng Kính của Chúa là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục.

Tiểu sử Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục

Tiểu sử của Tân Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục – Văn Phòng Nghi Lễ Phủ Giáo Hoàng

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục tục danh là Giovanni Battista Montini. Ngài chào đời tại Concesio (Brescia, nước Ý) vào ngày 26 tháng 9 năm 1897. Ngài đã theo học dòng Tên và là thành viên của Tu Hội Thánh Philip Neri tại Brescia. Ngài được thụ phong linh mục ngày 29 tháng 5 năm 1920.

Ngài hoàn tất chương trình triết học và luật dân sự tại Rôma, và giáo luật tại Milan. Ngài được bổ nhiệm làm tùy viên tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở thủ đô Warsaw, Ba Lan vào năm 1923, và năm sau, 1924, ngài trở lại Rôma để phục vụ trong Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Ngài là tuyên úy cho Liên Đoàn Sinh Viên Đại Học Công Giáo Ý tại Rôma (FUCL - "Federazione Universitaria Cattolica Italiana"), và từ năm 1923 đến 1925, ngài là tuyên úy của Liên Đoàn cấp quốc gia. Trong hai thập niên 1920 và 1930, ngài đã có nhiều hoạt động về tôn giáo và văn hóa tại Ý và cả bên ngoài nữa.

Thời gian làm việc tại Tòa Thánh của ngài đã được Đức Giáo Hoàng Piô XI và Đức Giáo Hoàng Piô XII đánh giá cao. Giữa những năm 1930 và 1937, ngài giảng dạy môn lịch sử ngoại giao Tòa Thánh tại Đại học Latêranô, cho đến ngày 13 tháng 12 năm 1937, khi Đức Giáo Hoàng Piô XI bổ nhiệm ngài làm Phụ Tá Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Dù phục vụ chủ yếu trong ngành ngoại giao, ngài đã thực hiện mọi nỗ lực để có thể tham gia trực tiếp vào các công tác mục vụ và chăm sóc cho các linh hồn; ngài cũng đã có nhiều hoạt động bác ái trong các vùng ngoại ô Rôma và đã tham gia vào tổ chức Saint Vincent De Paul.

Trong Thế chiến thứ II, ngài tích cực giúp đỡ người tị nạn và người Do Thái và lãnh đạo phòng Báo Chí Tòa Thánh. Trong giai đoạn cuối chiến tranh, ngài đã giúp hình thành Hiệp hội Công Giáo của người lao động Ý (ACLI - "Associzioni Cattoliche Lavoratori Italiani"). Ngài quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của phong trào đảng Dân chủ Kitô Giáo và cổ vũ việc hình thành các tổ chức quốc tế của giáo dân.

Ngày 29 tháng 11 năm 1952, ngài được bổ nhiệm làm Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách hành chánh sự vụ. Ngày 01 Tháng Mười Một năm 1954, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Milan và được tấn phong vào ngày 12 Tháng 12 cùng năm.

Trong giáo phận rộng lớn và phức tạp này, ngài đã sử dụng những phương pháp mới để rao giảng Tin Mừng hầu đối phó với sự gia tăng nhập cư và giúp người dân vượt qua chủ nghĩa duy vật và ý thức hệ Mác-xít, đặc biệt là ở những nơi làm việc. Ngài đã viết chín thư mục vụ cho Giáo Hội nghi lễ Ambrosiô, đã phê duyệt việc xây dựng trên 123 nhà thờ mới, và lãnh đạo một chương trình truyền giáo đô thị lớn nhất chưa từng có trong thế giới Công Giáo. Ngài đã thực hiện các chuyến đi đến Hoa Kỳ, Brazil và nhiều miền truyền giáo ở Châu Phi do tổng giáo phận Milan đảm trách.

Ngày 15 tháng 12 năm 1958, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, người đã từng là một người bạn thân thiết với ngài từ năm 1925, đã tấn phong Hồng Y cho ngài. Ngài đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị cho Công Đồng Chung Vatican II và sau đó tham gia vào đại Công Đồng này.

Vào ngày 21 Tháng Sáu 1963, ngài được bầu làm giáo hoàng với Tông Hiệu là Phaolô Đệ Lục. Trong bối cảnh nhiều thách đố trong xã hội, ngài đã đưa Công Đồng gồm 3 thời kỳ đến kết thúc thành công, khuyến khích các Giáo Hội địa phương mở cửa cho thế giới hiện đại đồng thời bảo tồn truyền thống của mình, trong khi luôn luôn tìm kiếm sự hiệp thông giữa các nghị phụ của Công Đồng.

Ngài đã thực hiện những chuyến tông du đến khắp các lục địa, bắt đầu từ vùng Thánh Địa, nơi đã xảy ra cuộc gặp lịch sử giữa ngài với Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras. Những chuyến tông du đã đưa ngài đến Ấn Độ và Liên Hiệp Quốc (1965), Fatima và Thổ Nhĩ Kỳ (1967), Columbia (1968), Geneva và Uganda (1969), và xa hơn về phía đông là Úc và Châu Đại Dương (1970). Ngài cũng thực hiện nhiều chuyến viếng thăm khắp nơi trên lãnh thổ Ý.

Thông điệp đầu tiên của ngài, Ecclesiam Suam (1964), đề cao phương pháp "đối thoại cứu độ" trong Giáo Hội và giữa Giáo Hội với toàn thế giới. Thông điệp khác của ngài là Mysterium Fidei – “Mầu Nhiệm Đức Tin” bàn về bí tích Thánh Thể (1965); Mense Maio – “Tháng Năm" (1965) và Christi Matri - "Mẹ Chúa Kitô" (1966) khẩn cầu Đức Mẹ ban hòa bình cho thế giới; Populorum Progressio - "Sự phát triển của các dân tộc" (1967); Sacerdotalis Caelibatus - "Về đời sống độc thân linh mục" (1967); Humanae vitae "di truyền cuộc sống con người" (1968).

Ngài đã áp dụng các văn bản của Công Đồng và thực hiện các cải tổ do Công Đồng đề xướng. Ngài đưa ra những giáo huấn về hòa bình và thiết lập ngày hòa bình thế giới.

Ngài phải chịu nhiều đau khổ vì các cuộc khủng hoảng liên tục ảnh hưởng đến Giáo Hội trong thời gian đó, nhưng ngài đã tìm thấy niềm an ủi lớn lao trong việc thông truyền đức tin, và bảo đảm nền móng tín lý của Giáo Hội trong một khoảng thời gian đầy những biến động về ý thức hệ (“Năm đức tin”: 1967-1968 và "Kinh Tin Kính của Dân Chúa": 1968). Ngài đã cho thấy một khả năng đáng kể trong việc hòa giải ở mọi lĩnh vực. Ngài thận trọng trong các quyết định của mình, kiên trì những nguyên tắc đã được khẳng định, và hiểu biết sự yếu đuối của con người.

Bằng cách viếng thăm thường xuyên những nơi làm việc và với tông thư Octogesima Adveniens (1971), ngài đã chứng minh cho thế giới thấy mối quan tâm thận trọng và chu đáo của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội. Ngài thử nghiệm những cách thức mới để truyền bá đức tin (Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 1975), và chia sẻ cách trìu mến những đau khổ của người nghèo. Ngài bảo vệ các giá trị của gia đình và của chính cuộc sống, chống lại ly dị và phá thai. Ngài phải đối diện với những căng thẳng chính trị và xã hội ở một số nước lên đến mức tạo ra những hình thức bạo lực và chủ nghĩa khủng bố; sự phản đối chân thành của Đức Phaolô Đệ Lục đối với bạo lực này được cảm nhận trên thế giới.

Ngài có một cá tính thâm trầm, khiêm tốn và dịu dàng, tin tưởng và chân thành, và có một sự nhạy cảm nhân bản đặc biệt. Ngài là một người có tâm linh sâu sắc - được hình thành trên Kinh Thánh, và trên giáo huấn của các nghị phụ, cũng như các nhà thần học lừng danh trong Giáo Hội. Ngài đã cho thấy đức tin mạnh mẽ, niềm hy vọng vững vàng, và một cuộc sống hàng ngày đầy tình bác ái, thận trọng và đơn giản. Lời cầu nguyện của ngài, đâm rễ sâu trong lời Chúa, phụng vụ và chầu Mình Thánh, tập trung vào Chúa Kitô và được củng cố bởi một lòng sùng kính gương mẫu dành cho Đức Mẹ (Tông huấn Marialis Cultis, 1974).

Từ khi bắt đầu sứ vụ thánh Phêrô của mình, ngài đặc biệt quan tâm đến thệ hệ trẻ, chia sẻ với họ, và với tất cả các tín hữu niềm vui đức tin (Tông huấn Gaudete in Domino, 1975) và "nền văn minh tình yêu" (Năm Thánh, 1975).

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã qua đời tại Castel Gandolfo sau một thời gian ngắn nhiễm bệnh vào ngày 6 tháng 8 năm 1978 đang khi đọc kinh Lạy Cha.

Hai kiệt tác của ngài về tâm linh và tình yêu dành cho Giáo Hội vẫn còn là những tác phẩm thời danh, đó là cuốn Pensiero alla Morte ("Một suy niệm về cái Chết") và Testamento ("Chứng tá").

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã công bố rằng Đức Phaolô Đệ Lục đã "sống một cuộc sống với nhân đức anh hùng" vào ngày 20 Tháng Mười Hai 2012.

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ kết thúc Thượng Hội Đồng và tôn phong Chân Phước cho Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục

Chúng ta vừa nghe một trong những câu nói lừng danh nhất trong toàn bộ Tin Mừng: "Hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa" (Mt 22:21).

Bị thúc giục bởi những người Pharisêu, là những người như muốn đặt ra cho Ngài một bài sát hạch về tôn giáo để bắt lỗi Ngài, Chúa Giêsu đã đưa ra câu trả lời mỉa mai và thông minh này. Đây là một cụm từ nổi bật Chúa đã để lại cho tất cả những ai cảm thấy bối rối lương tâm, đặc biệt là khi đang có những nghi vấn về sự thoải mái của họ, sự giàu có, uy tín, uy quyền và danh tiếng của họ. Điều này xảy ra trong mọi thời; thời nào cũng có.

Chắc chắn Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến phần thứ hai của câu nói này: " hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa". Điều này đòi hỏi phải nhìn nhận và tuyên xưng - khi đối mặt với bất kỳ thứ quyền bính nào - rằng chỉ có Thiên Chúa là Chúa của nhân loại, ngoài ra không có Chúa nào khác. Đây là sự mới mẻ dù đã có từ muôn thửa vẫn được phát hiện mỗi ngày, và nó đòi hỏi chúng ta phải làm chủ được nỗi sợ hãi thường cảm thấy khi đứng trước những bất ngờ của Thiên Chúa.

Thiên Chúa không sợ những điều mới mẻ! Đó là lý do tại sao Ngài liên tục gây ngạc nhiên cho chúng ta, trong khi mở lòng chúng ta và hướng dẫn chúng ta trong những cách thế thật bất ngờ. Ngài đổi mới chúng ta: Ngài liên tục làm "mới" chúng ta. Một Kitô hữu sống Tin Mừng là "một sự mới mẻ của Thiên Chúa" trong lòng Giáo Hội và thế giới. Thiên Chúa yêu mến sự "mới mẻ" này biết bao!

"Trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa" có nghĩa là ngoan ngoãn vâng theo thánh ý Ngài, cống hiến cuộc sống của chúng ta cho Ngài và làm việc cho vương quốc đầy lòng thương xót, tình yêu và hòa bình của Ngài.

Đây là nơi mà sức mạnh thực sự của chúng ta được tìm thấy; đây là men của phát triển và muối mang đến hương vị cho tất cả những nỗ lực của chúng ta chống lại sự bi quan tràn lan mà thế giới đề xuất với chúng ta. Đây cũng là nơi mà hy vọng của chúng ta được tìm thấy. Khi chúng ta đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa, chúng ta không chạy trốn thực tại cũng không tìm kiếm một chứng cứ ngoại phạm: thay vào đó, chúng ta đang cố gắng để trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao Kitô hữu chúng ta nhìn về tương lai, tương lai của Thiên Chúa. Như thế chúng ta có thể sống cuộc sống này viên mãn nhất - với bàn chân của chúng ta đạp trên mặt đất - và can đảm đáp trả bất cứ thách đố mới nào ập đến với chúng ta.

Trong những ngày này, trong Thượng Hội Đồng Giám Mục ngoại thường, chúng ta đã thấy điều này thật là đúng như thế nào. "Thượng Hội Đồng" có nghĩa là "cuộc hành trình với nhau". Và quả thực như thế, các mục tử và giáo dân từ khắp nơi trên thế giới đã đến Rôma, đem theo tiếng nói của Giáo Hội địa phương mình để giúp các gia đình ngày nay đi con đường Tin Mừng với cái nhìn cố định vào Chúa Giêsu. Đó là một kinh nghiệm tuyệt vời, trong đó chúng ta đã sống tinh thần công đồng và đồng đoàn, và cảm thấy sức mạnh của Chúa Thánh Thần đang hướng dẫn và liên tục đổi mới Giáo Hội. Giáo Hội được mời gọi để nhanh chóng tìm kiếm và hàn gắn những vết thương, đồng thời nhen nhóm lại hy vọng đã tàn lụi trong lòng nhiều người.

Trước ân sủng là Thượng Hội Đồng này và trước tinh thần xây dựng mà tất cả mọi người đã thể hiện, hiệp cùng Thánh Tông Đồ Phaolô "Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện " (1 Th 1: 2). Xin Chúa Thánh Thần, là Đấng mà trong những ngày bận rộn này đã giúp chúng ta làm việc quảng đại, trong tự do đích thực và trong sự sáng tạo khiêm tốn, tiếp tục hướng dẫn cuộc hành trình đó, trong các Giáo Hội trên toàn thế giới, và dẫn đưa chúng ta đến Thượng Hội Đồng Giám Mục thường kỳ vào tháng 10 năm 2015. Chúng ta đã gieo và chúng ta tiếp tục gieo, trong kiên nhẫn và bền đỗ, trong niềm xác tín rằng chính Chúa là Đấng làm cho những gì chúng ta đã gieo được tăng trưởng (xem 1 Cor 3: 6).

Trong ngày tôn phong Chân Phước cho Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục này, tôi nghĩ đến những lời qua đó ngài đã thiết định cơ cấu Thượng Hội Đồng Giám Mục: "bằng cách cẩn thận khảo sát các dấu chỉ của thời đại, chúng ta đang nỗ lực để thích nghi với những cách thức và phương pháp ... với nhu cầu ngày càng tăng của thời đại chúng ta và những tình trạng thay đổi của xã hội "(Tông Thư Motu proprio Apostolica Sollicitudo).

Khi chúng ta hướng nhìn về Đức Giáo Hoàng vĩ đại này, người Kitô hữu can đảm này, vị tông đồ không mệt mỏi này, chúng ta không thể không nói trước mặt Thiên Chúa một từ đơn giản nhưng chân thành và quan trọng là cảm ơn! Cảm ơn! Cảm ơn Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục thân thiết và yêu quý của chúng con! Cảm ơn những chứng tá khiêm tốn và tiên tri trong tình yêu đối với Chúa Kitô và Giáo Hội của Người!

Trong ghi chú cá nhân của mình, người cầm lái vĩ đại của Công Đồng đã viết, vào lúc kết thúc phiên cuối cùng rằng: "Có lẽ Chúa đã gọi tôi và dành tôi cho sứ vụ này không phải vì tôi đặc biệt thích hợp với nó, hay là vì tôi có thể chi phối và cứu Giáo Hội khỏi những khó khăn hiện tại, nhưng là để tôi có thể gánh chịu một cái gì đó cho Giáo Hội, và vì thế mọi sự trở nên tỏ tường rằng chính Ngài, chứ không ai khác, là Đấng hướng dẫn và là vị cứu tinh của Giáo Hội "(P. Macchi, Paolo VI Nella sua Parola , Brescia, 2001, tr. 120-121). Trong sự khiêm nhường này, sự hùng vĩ của Chân Phước Phaolô Đệ Lục sáng chói: trước sự ra đời của một xã hội tục hóa và thù địch với Giáo Hội, ngài vẫn có thể vững vàng, với viễn kiến và trí tuệ - và đôi khi đơn độc – lèo lái con thuyền của Thánh Phêrô, trong khi không bao giờ đánh mất đi niềm vui và niềm tin vào Chúa.

Đức Phaolô Đệ Lục thực sự đã "trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa" bằng cách dành toàn bộ cuộc đời mình cho "nhiệm vụ thánh thiêng, trang trọng và nặng nề là tiếp tục theo dòng lịch sử việc mở rộng trên trái đất này sứ vụ của Chúa Kitô" (Bài giảng nghi lễ đăng quang: Insegnamenti I, 1963 , p. 26), trong khi yêu thương Giáo Hội và dẫn dắt để Giáo Hội có thể là "một người mẹ yêu thương của gia đình nhân loại và đồng thời là thừa tác viên ơn cứu độ của thế giới" (Tông thư Ecclesiam Suam, Prologue).

Lời nguyện giáo dân

Mở đầu phần lời nguyện giáo dân, Đức Thánh Cha nói:

Anh em thân mến, chúng ta dâng lên Chúa lời cầu xin để với sự trợ giúp của ân sủng Người, Thiên Chúa có thể được tôn vinh trong mọi sự.

Lạy Chúa, xin soi sáng cho hiền thê của Ngài là Giáo Hội, để nhờ ánh sáng Biến Hình của Chúa; vẻ đẹp của thiên nhan Ngài chiếu rọi trên mọi dân nước.

Lạy Chúa, xin nâng đỡ công việc của các nhà truyền giáo để nhờ đức tin mạnh mẽ mà các ngài rao truyền tất cả mọi người nhận biết rằng Chúa là điều cần thiết duy nhất cho cuộc sống của chúng con.

Lạy Chúa, xin thánh hóa sự kết hợp những cặp vợ chồng Kitô giáo với ân sủng là sự hiện diện của Chúa; để trong tất cả các gia đình nhân phẩm của trẻ em và người cao niên được tôn trọng.

Lạy Chúa, xin gieo vào lòng các nghệ sĩ, các nhà khoa học, và những người nam nữ của văn hóa ước muốn sự thật; để tất cả có thể tham gia trong việc xây dựng một nền văn minh tình thương.

Lạy Chúa Giêsu, nhờ lời cầu bầu của Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI, người đã dạy chúng con bằng chính cuộc sống của ngài và một tình yêu nhiệt thành cho Chúa và Giáo Hội, xin nghe lời cầu nguyện của chúng tôi và đổ đầy trong chúng con với sự hiện diện của Chúa. Người là Đấng hằng sống hằng trị đến muôn đời.

Tân Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục

Tiểu sử của Tân Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục tục danh là Giovanni Battista Montini. Ngài chào đời tại Concesio (Brescia, nước Ý) vào ngày 26 tháng 9 năm 1897. Ngài đã theo học dòng Tên và là thành viên của Tu Hội Thánh Philip Neri tại Brescia. Ngài được thụ phong linh mục ngày 29 tháng 5 năm 1920.

Ngài hoàn tất chương trình triết học và luật dân sự tại Rôma, và giáo luật tại Milan. Ngài được bổ nhiệm làm tùy viên tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở thủ đô Warsaw, Ba Lan vào năm 1923, và năm sau, 1924, ngài trở lại Rôma để phục vụ trong Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Ngài là tuyên úy cho Liên Đoàn Sinh Viên Đại Học Công Giáo Ý tại Rôma (FUCL - "Federazione Universitaria Cattolica Italiana"), và từ năm 1923 đến 1925, ngài là tuyên úy của Liên Đoàn cấp quốc gia. Trong hai thập niên 1920 và 1930, ngài đã có nhiều hoạt động về tôn giáo và văn hóa tại Ý và cả bên ngoài nữa.

Thời gian làm việc tại Tòa Thánh của ngài đã được Đức Giáo Hoàng Piô XI và Đức Giáo Hoàng Piô XII đánh giá cao. Giữa những năm 1930 và 1937, ngài giảng dạy môn lịch sử ngoại giao Tòa Thánh tại Đại học Latêranô, cho đến ngày 13 tháng 12 năm 1937, khi Đức Giáo Hoàng Piô XI bổ nhiệm ngài làm Phụ Tá Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Dù phục vụ chủ yếu trong ngành ngoại giao, ngài đã thực hiện mọi nỗ lực để có thể tham gia trực tiếp vào các công tác mục vụ và chăm sóc cho các linh hồn; ngài cũng đã có nhiều hoạt động bác ái trong các vùng ngoại ô Rôma và đã tham gia vào tổ chức Saint Vincent De Paul.

Trong Thế chiến thứ II, ngài tích cực giúp đỡ người tị nạn và người Do Thái và lãnh đạo phòng Báo Chí Tòa Thánh. Trong giai đoạn cuối chiến tranh, ngài đã giúp hình thành Hiệp hội Công Giáo của người lao động Ý (ACLI - "Associzioni Cattoliche Lavoratori Italiani"). Ngài quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của phong trào đảng Dân chủ Kitô Giáo và cổ vũ việc hình thành các tổ chức quốc tế của giáo dân.

Ngày 29 tháng 11 năm 1952, ngài được bổ nhiệm làm Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách hành chánh sự vụ. Ngày 01 Tháng Mười Một năm 1954, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Milan và được tấn phong vào ngày 12 Tháng 12 cùng năm.

Trong giáo phận rộng lớn và phức tạp này, ngài đã sử dụng những phương pháp mới để rao giảng Tin Mừng hầu đối phó với sự gia tăng nhập cư và giúp người dân vượt qua chủ nghĩa duy vật và ý thức hệ Mác-xít, đặc biệt là ở những nơi làm việc. Ngài đã viết chín thư mục vụ cho Giáo Hội nghi lễ Ambrosiô, đã phê duyệt việc xây dựng trên 123 nhà thờ mới, và lãnh đạo một chương trình truyền giáo đô thị lớn nhất chưa từng có trong thế giới Công Giáo. Ngài đã thực hiện các chuyến đi đến Hoa Kỳ, Brazil và nhiều miền truyền giáo ở Châu Phi do tổng giáo phận Milan đảm trách.

Ngày 15 tháng 12 năm 1958, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, người đã từng là một người bạn thân thiết với ngài từ năm 1925, đã tấn phong Hồng Y cho ngài. Ngài đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị cho Công Đồng Chung Vatican II và sau đó tham gia vào đại Công Đồng này.

Vào ngày 21 Tháng Sáu 1963, ngài được bầu làm giáo hoàng với Tông Hiệu là Phaolô Đệ Lục. Trong bối cảnh nhiều thách đố trong xã hội, ngài đã đưa Công Đồng gồm 3 thời kỳ đến kết thúc thành công, khuyến khích các Giáo Hội địa phương mở cửa cho thế giới hiện đại đồng thời bảo tồn truyền thống của mình, trong khi luôn luôn tìm kiếm sự hiệp thông giữa các nghị phụ của Công Đồng.

Ngài đã thực hiện những chuyến tông du đến khắp các lục địa, bắt đầu từ vùng Thánh Địa, nơi đã xảy ra cuộc gặp lịch sử giữa ngài với Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras. Những chuyến tông du đã đưa ngài đến Ấn Độ và Liên Hiệp Quốc (1965), Fatima và Thổ Nhĩ Kỳ (1967), Columbia (1968), Geneva và Uganda (1969), và xa hơn về phía đông là Úc và Châu Đại Dương (1970). Ngài cũng thực hiện nhiều chuyến viếng thăm khắp nơi trên lãnh thổ Ý.

Thông điệp đầu tiên của ngài, Ecclesiam Suam (1964), đề cao phương pháp "đối thoại cứu độ" trong Giáo Hội và giữa Giáo Hội với toàn thế giới. Thông điệp khác của ngài là Mysterium Fidei – “Mầu Nhiệm Đức Tin” bàn về bí tích Thánh Thể (1965); Mense Maio – “Tháng Năm" (1965) và Christi Matri - "Mẹ Chúa Kitô" (1966) khẩn cầu Đức Mẹ ban hòa bình cho thế giới; Populorum Progressio - "Sự phát triển của các dân tộc" (1967); Sacerdotalis Caelibatus - "Về đời sống độc thân linh mục" (1967); Humanae vitae "di truyền cuộc sống con người" (1968).

Ngài đã áp dụng các văn bản của Công Đồng và thực hiện các cải tổ do Công Đồng đề xướng. Ngài đưa ra những giáo huấn về hòa bình và thiết lập ngày hòa bình thế giới.

Ngài phải chịu nhiều đau khổ vì các cuộc khủng hoảng liên tục ảnh hưởng đến Giáo Hội trong thời gian đó, nhưng ngài đã tìm thấy niềm an ủi lớn lao trong việc thông truyền đức tin, và bảo đảm nền móng tín lý của Giáo Hội trong một khoảng thời gian đầy những biến động về ý thức hệ (“Năm đức tin”: 1967-1968 và "Kinh Tin Kính của Dân Chúa": 1968). Ngài đã cho thấy một khả năng đáng kể trong việc hòa giải ở mọi lĩnh vực. Ngài thận trọng trong các quyết định của mình, kiên trì những nguyên tắc đã được khẳng định, và hiểu biết sự yếu đuối của con người.

Bằng cách viếng thăm thường xuyên những nơi làm việc và với tông thư Octogesima Adveniens (1971), ngài đã chứng minh cho thế giới thấy mối quan tâm thận trọng và chu đáo của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội. Ngài thử nghiệm những cách thức mới để truyền bá đức tin (Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 1975), và chia sẻ cách trìu mến những đau khổ của người nghèo. Ngài bảo vệ các giá trị của gia đình và của chính cuộc sống, chống lại ly dị và phá thai. Ngài phải đối diện với những căng thẳng chính trị và xã hội ở một số nước lên đến mức tạo ra những hình thức bạo lực và chủ nghĩa khủng bố; sự phản đối chân thành của Đức Phaolô Đệ Lục đối với bạo lực này được cảm nhận trên thế giới.

Ngài có một cá tính thâm trầm, khiêm tốn và dịu dàng, tin tưởng và chân thành, và có một sự nhạy cảm nhân bản đặc biệt. Ngài là một người có tâm linh sâu sắc - được hình thành trên Kinh Thánh, và trên giáo huấn của các nghị phụ, cũng như các nhà thần học lừng danh trong Giáo Hội. Ngài đã cho thấy đức tin mạnh mẽ, niềm hy vọng vững vàng, và một cuộc sống hàng ngày đầy tình bác ái, thận trọng và đơn giản. Lời cầu nguyện của ngài, đâm rễ sâu trong lời Chúa, phụng vụ và chầu Mình Thánh, tập trung vào Chúa Kitô và được củng cố bởi một lòng sùng kính gương mẫu dành cho Đức Mẹ (Tông huấn Marialis Cultis, 1974).

Từ khi bắt đầu sứ vụ thánh Phêrô của mình, ngài đặc biệt quan tâm đến thệ hệ trẻ, chia sẻ với họ, và với tất cả các tín hữu niềm vui đức tin (Tông huấn Gaudete in Domino, 1975) và "nền văn minh tình yêu" (Năm Thánh, 1975).

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã qua đời tại Castel Gandolfo sau một thời gian ngắn nhiễm bệnh vào ngày 6 tháng 8 năm 1978 đang khi đọc kinh Lạy Cha.

Hai kiệt tác của ngài về tâm linh và tình yêu dành cho Giáo Hội vẫn còn là những tác phẩm thời danh, đó là cuốn Pensiero alla Morte ("Một suy niệm về cái Chết") và Testamento ("Chứng tá").

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã công bố rằng Đức Phaolô Đệ Lục đã "sống một cuộc sống với nhân đức anh hùng" vào ngày 20 Tháng Mười Hai 2012.